Đại biểu quốc hội 2 quốc tịch có được phép không?

Việc giữ hai quốc tịch và đồng thời làm đại biểu Quốc hội phụ thuộc vào luật pháp cụ thể của quốc gia đó. Mỗi quốc gia có quy định riêng về quốc tịch và đối tượng đại biểu Quốc hội. Thông thường, quy định này có thể yêu cầu đại biểu phải giữ quốc tịch độc quyền hoặc tuân theo các ràng buộc cụ thể khi giữ quốc tịch khác.  Hãy cũng Visaworlds tìm hiểu về đại biểu quốc hội 2 quốc tịch có được phép không? nhé!

Đại biểu quốc hội 2 quốc tịch có được phép không?
Đại biểu quốc hội 2 quốc tịch có được phép không?

I. Hai quốc tịch là gì?

Hai quốc tịch (song tịch) nghĩa là hai quốc tịch, theo đó, song tịch là từ được sử dụng để nói về một người có đồng thời hai quốc tịch hợp pháp, cụ thể, người mang song tịch là công dân của hai quốc gia khác nhau.

II. Đại biểu quốc hội 2 quốc tịch có được phép không?

Căn cứ khoản 1 Điều 17 Hiến pháp 2013 như sau:

– Công dân nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là người có quốc tịch Việt Nam.

– Công dân Việt Nam không thể bị trục xuất, giao nộp cho nhà nước khác.

– Công dân Việt Nam ở nước ngoài được Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam bảo hộ.

Căn cứ Điều 4 Luật Quốc tịch Việt Nam 2008 như sau:

– Nhà nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam công nhận công dân Việt Nam có một quốc tịch là quốc tịch Việt Nam, trừ trường hợp luật này có quy định khác.

Bên cạnh đó tại, Điều 22 Luật Tổ chức Quốc hội 2014 quy định tiêu chuẩn của đại biểu Quốc hội như sau:

– Trung thành với Tổ quốc, Nhân dân và Hiến pháp, phấn đấu thực hiện công cuộc đổi mới, vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.

– Có một quốc tịch là quốc tịch Việt Nam.

– Có phẩm chất đạo đức tốt, cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư, gương mẫu chấp hành pháp luật; có bản lĩnh, kiên quyết đấu tranh chống tham nhũng, lãng phí, mọi biểu hiện quan liêu, hách dịch, cửa quyền và các hành vi vi phạm pháp luật khác.

– Có trình độ văn hóa, chuyên môn, có đủ năng lực, sức khỏe, kinh nghiệm công tác và uy tín để thực hiện nhiệm vụ đại biểu Quốc hội.

– Liên hệ chặt chẽ với Nhân dân, lắng nghe ý kiến của Nhân dân, được Nhân dân tín nhiệm.

– Có điều kiện tham gia các hoạt động của Quốc hội.

Như vậy căn cứ các quy định nêu trên nếu đại biểu Quốc hội có 2 quốc tịch là không đủ tiêu chuẩn. Do đó, người vi phạm trong trường hợp này phải xin thôi một quốc tịch hoặc xin thôi đại biểu Quốc hội nếu không thì sẽ bị xem xét xử lý bãi nhiệm theo quy định của pháp luật.

III. Công dân Việt Nam vẫn có thêm quốc tịch khác

Hiến pháp quy định công dân nước CHXHCN Việt Nam là người có quốc tịch Việt Nam. Nguyên tắc quốc tịch (được quy định tại điều 4 Luật quốc tịch Việt Nam) công nhận công dân Việt Nam có một quốc tịch là quốc tịch Việt Nam, trừ trường hợp luật này có quy định khác.

Luật sửa đổi, bổ sung Luật quốc tịch (ngày 24-6-2014) cho phép công dân được mang 2 quốc tịch trong những trường hợp sau: được Chủ tịch nước cho phép; xin trở lại quốc tịch Việt Nam; người Việt Nam định cư ở nước ngoài đã nhập quốc tịch nước ngoài nhưng vẫn muốn giữ quốc tịch Việt Nam…

Tuy nhiên luật sư Bùi Quang Nghiêm, phó chủ nhiệm đoàn luật sư TP.HCM, cho rằng trên thực tế rất nhiều công dân Việt Nam đồng thời có quốc tịch khác. Nguyên nhân của tình trạng này rơi vào các trường hợp sau:

Trẻ em có cha/mẹ là công dân Việt Nam, sinh ra và được khai sinh ở Việt Nam. Tuy nhiên, trẻ em đó đồng thời được cha/mẹ là người quốc tịch khác nhập tịch theo quốc gia cha/ mẹ. Như vậy, trẻ em đó là công dân có 2 quốc tịch.

Công dân Việt Nam được vợ/chồng là người quốc tịch khác bảo lãnh, đáp ứng một số điều kiện nhập tịch của quốc gia vợ/chồng thì sau đó có thêm quốc tịch của quốc gia đó.

Một số quốc gia thực hiện chính sách thu hút đầu tư cho phép, tạo điều kiện thuận lợi cho công dân quốc gia khác (trong đó có Việt Nam) nhập quốc tịch nếu đáp ứng một số điều kiện về quy mô đầu tư, ngành nghề đầu tư.

Công dân Việt Nam có thành tích đặc biệt xuất sắc trong các lĩnh vực khoa học, giảng dạy, âm nhạc… được nước sở tại tạo điều kiện nhập tịch.

Như vậy, trên thực tế có rất nhiều trường hợp công dân Việt Nam có đồng thời quốc tịch của quốc gia khác mà quốc gia đó không bắt buộc công dân này phải thôi quốc tịch Việt Nam.

IV. Tiêu chuẩn về quốc tịch của đại biểu Quốc hội

Theo quy định Luật bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu hội đồng nhân dân năm 2015, đại biểu Quốc hội phải là công dân Việt Nam, đủ 21 tuổi trở lên, có quyền ứng cử, được Mặt trận Tổ quốc Việt Nam qua hiệp thương nhân dân đưa vào danh sách ứng cử đại biểu Quốc hội, có đủ số phiếu cần thiết để trở thành đại biểu Quốc hội và được Ủy ban thẩm tra tư cách đại biểu Quốc hội xác định đủ tư cách làm đại biểu Quốc hội.

Luật tổ chức Quốc hội hiện hành quy định về tiêu chuẩn của đại biểu Quốc hội (điều 22) gồm 5 tiêu chuẩn như: Trung thành với Tổ quốc, nhân dân và hiến pháp, phấn đấu thực hiện công cuộc đổi mới vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh; Liên hệ chặt chẽ với nhân dân, lắng nghe ý kiến của nhân dân, được nhân dân tín nhiệm…

Còn theo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật tổ chức Quốc hội (từ ngày 1-1-2021 mới có hiệu lực) bổ sung vào một tiêu chuẩn của đại biểu Quốc hội là “Có một quốc tịch là quốc tịch Việt Nam” (khoản 1a, điều 22).

Thạc sĩ Lưu Đức Quang, giảng viên khoa luật Đại học Kinh tế – luật, Đại học quốc gia TP.HCM, cho rằng nếu chiếu theo quy định pháp luật hiện hành thì đại biểu Quốc hội có đồng thời một quốc tịch khác là không vi phạm pháp luật.

Tuy nhiên, việc này là không được, cần phải điều chỉnh. Lý do đơn giản nhất nếu xét theo tiêu chuẩn thì đại biểu Quốc hội đại diện cho ý chí, quyền lợi của nhân dân Việt Nam, trung thành với Tổ quốc.

Nếu đại biểu Quốc hội cũng đồng thời là công dân quốc gia khác thì e rằng không đáp ứng được tiêu chuẩn trung thành, chỉ đấu tranh cho quyền lợi của người dân Việt Nam.

Vì vậy, sau một số vụ việc đại biểu Quốc hội có hai quốc tịch trước đây thì Quốc hội đã xem xét bổ sung thêm tiêu chuẩn đại biểu Quốc hội là “Có một quốc tịch là quốc tịch Việt Nam”. “Đồng thời Luật quy định cho Quốc hội và cử tri có quyền bãi nhiệm tư cách đại biểu Quốc hội nếu thấy đại biểu đó không còn xứng đáng với tín nhiệm của nhân dân” – thạc sĩ Lưu Đức Quang nói.

V. Mọi người cũng hỏi

1. Câu hỏi: Đối với đại biểu quốc hội có hai quốc tịch, liệu có ảnh hưởng đến quyền lợi và trách nhiệm của họ trong quốc hội không?

Trả lời: Việc có hai quốc tịch có thể tạo ra những thách thức phức tạp về trách nhiệm và trung thành. Tuy nhiên, nhiều quốc gia đã xây dựng các quy định cụ thể để đảm bảo rằng đại biểu quốc hội với hai quốc tịch vẫn phải tuân theo luật pháp và trung thành với quốc gia mà họ đại diện.

2. Câu hỏi: Lợi ích nào có thể đến từ việc có đại biểu quốc hội đồng thời là công dân của hai quốc gia?

Trả lời: Đại biểu quốc hội có hai quốc tịch có thể mang lại lợi ích trong việc thúc đẩy quan hệ đối ngoại giữa hai quốc gia. Họ có thể đóng vai trò như cầu nối giao tiếp hiệu quả và tăng cường sự hiểu biết giữa các quốc gia.

3. Câu hỏi: Đối với cử tri, việc đại biểu quốc hội có hai quốc tịch có thể tạo ra sự tin tưởng và ổn định trong hệ thống chính trị hay không?

Trả lời: Sự đa quốc tịch của đại biểu quốc hội có thể được nhìn nhận khác nhau bởi cử tri. Một số có thể xem đó là một dạng đa dạng và sự mở cửa cửa sổ quốc tế, trong khi người khác có thể lo ngại về mối quan tâm và trung thành chia đôi. Trong môi trường chính trị đa dạng, sự mở cửa cửa sổ quốc tế có thể mang lại những giá trị và ý kiến phong phú.

Bài viết liên quan

0931473068

Tư vấn
challenges-icon chat-active-icon