Quy định về người không quốc tịch tại Việt Nam

Đối với người ngoại quốc tại Việt Nam, việc tuân thủ các quy định và chính sách là quan trọng để đảm bảo sự hòa nhập mượt mà vào xã hội và cuộc sống hằng ngày. Họ cũng cần lưu ý đến các quy tắc về an ninh và trật tự, đặc biệt là trong các khu vực như bảo vệ môi trường và an sinh xã hội. Hãy cùng Visaworlds tìm hiểu về Quy định về người không quốc tịch tại Việt Nam nhé!

Quy định về người không quốc tịch tại Việt Nam
Quy định về người không quốc tịch tại Việt Nam

I. Người không quốc tịch là gì?

Người không quốc tịch tại Việt Nam, thường được gọi là người ngoại quốc, phải tuân thủ theo các quy định và điều kiện cụ thể. Họ cần có visa hoặc thị thực hợp lệ để nhập cảnh và lưu trú, đồng thời đăng ký tạm trú và cư trú tại cơ quan chức năng. Nếu muốn làm việc hoặc kinh doanh, họ phải có giấy phép và tuân thủ các quy tắc kinh doanh. Bảo hiểm y tế là quan trọng, và việc hiểu văn hóa và ngôn ngữ địa phương giúp họ hòa nhập tốt hơn. Tất cả những điều này đảm bảo một sự sống và làm việc thuận lợi và tuân thủ pháp luật tại Việt Nam.

II. Quy định về người không quốc tịch tại Việt Nam

Trong pháp luật quốc tế, vấn đề về người không quốc tịch được quy định trong Tuyên ngôn quốc tế nhân quyền 1948[1], Công ước về vị thế của người không quốc tịch 1954 và Công ước về giảm tình trạng không quốc tịch 1961.Theo điểm 2 Điều 3 Luật Quốc tịch Việt Nam thì “người không quốc tịch” là người không có quốc tịch Việt Nam và cũng không có quốc tịch nước ngoài. Như vậy, có thể hiểu,người không quốc tịch là tình trạng pháp lý của một cá nhân không có quốc tịch của một nước nào, người đó cũng không được coi là công dân của bất kỳ nước nào. Hiện nay tình trạng người không quốc tịch là vấn đề của nhiều quốc gia trên thế giới, trong đó đặc biệt có đối tượng là trẻ em. Theo báo cáo của Cao ủy Liên Hợp quốc về người tị nạn thì trên thế giới cứ 10 phút lại có một đứa trẻ không có quốc tịch ra đời. Chỉ tính ở 20 quốc gia có số dân không quốc tịch đông nhất, mỗi năm có 70.000 trẻ không quốc tịch được sinh ra. Hay gần đây, trên Báo Vnexpress.net, ngày 07/3/2018 có đưa tin về “Những người nhập cư gốc Việt tại Mỹ chờ ngày bị trục xuất”, trong đó có nội dung Cục điều tra dân số Mỹ ước tính có khoảng 1,3 triệu người Việt nhập cư sống tại Mỹ. Theo các luật sư thì trong số này, có khoảng 80.000-10.000 người Việt nhập cư có nguy cơ bị trục xuất, trong đó nhiều trường hợp là vì mất “thẻ xanh” do từng bị kết án[2]. Ngoài ra, những người rời khỏi Việt Nam trước ngày 12/7/1995, thời điểm hai quốc gia nối lại quan hệ ngoại giao, cũng thuộc nhóm bị bắt giữ trái luật. Vấn đề này đặt ra sẽ có tình trạng người Việt Nam chưa được nhập quốc tịch Mỹ và đã bị mất quốc tịch Việt Nam thì sẽ như thế nào? Tuy nhiên, trong bài viết này, tác giả chỉ đánh giá về thực trạng người không quốc tịch ở Việt Nam, những nguyên nhân dẫn đến tình trạng này và một số ý kiến bình luận để góp phần cải thiện vấn đề người không quốc tịch ở Việt Nam trong thời gian tới.

Thực trạng

Tại Việt Nam, theo số liệu của Bộ Tư pháp, từ ngày 01/7/2009 đến ngày 31/3/2017 (số liệu thống kê theo yêu cầu của Bộ Tư pháp tại văn bản số: 733/QĐ-BTP ngày 25 tháng 5 năm 2017), Chủ tịch nước đã quyết định cho phép 5.025 trường hợp được nhập quốc tịch Việt Nam, 71 trường hợp được trở lại quốc tịch Việt Nam, 62.315 trường hợp được thôi quốc tịch Việt Nam; các Sở Tư pháp trong cả nước và cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài đã cấp 15.058 Giấy xác nhận có quốc tịch Việt Nam; 1.398 Giấy xác nhận gốc Việt Nam cho người có yêu cầu[3]. Theo Điều 22 Luật Quốc tịch thì “người không quốc tịch mà không có đầy đủ các giấy tờ về nhân thân, nhưng đã cư trú ổn định trên lãnh thổ Việt Nam từ 20 năm trở lên tính đến ngày Luật này có hiệu lực và tuân thủ Hiến pháp, pháp luật Việt Nam thì được nhập quốc tịch Việt Nam theo trình tự, thủ tục và hồ sơ do Chính phủ quy định”.Quy định tại Điều 22 Luật quốc tịch năm 2008 đã tạo cơ sở pháp lý giải quyết việc nhập quốc tịch Việt Nam cho hàng ngàn người không quốc tịch đang cư trú trên lãnh thổ Việt Nam từ 20 năm trở lên, góp phần quan trọng vào việc giải quyết tồn đọng mang tính lịch sử về tình trạng người không quốc tịch ở nước ta.Tuy nhiên, thực tiễn vẫn còn hàng chục ngàn người không quốc tịch chưa đủ điều kiện gia nhập quốc tịch Việt Nam do thời gian cư trú dưới 20 năm. Ngoài ra, cũng theo rà soát của Bộ Tư pháp thì hiện nay có bốn nhóm người không quốc tịch, cụ thể: (i) những người di cư tự do từ Campuchia đến sinh sống tại các tỉnh phía Nam; (ii) những người di cư tự do từ Lào sống dọc các tỉnh biên giới phía Tây; (iii) những người di cư tự do từ Trung Quốc sống tại các tỉnh biên giới phía Bắc; và (iv) những người đã thôi quốc tịch Việt Nam để nhập quốc tịch nước ngoài song vì nhiều lý do khác nhau không được nhập quốc tịch nước ngoài nên trở về Việt Nam sinh sống.
Trong số các nguyên nhân dẫn đến tình trạng không quốc tịch thì tại Việt Nam, có một số nguyên nhân chính là:
Thứ nhất, doxung đột pháp luật giữa các nước về vấn đề quốc tịch. Xuất phát từ chủ quyền quốc gia mà mỗi nước có quyền quy định trong pháp luật của nước mình những phương thức hưởng quốc tịch. Quốc tịch có thể là quốc tịch theo huyết thống, quốc tịch theo nơi sinh, v.v. Tuy nhiên, có trường hợp người đang cư trú ở nước ngoài mà theo luật nước đóyêu cầu phải được sự chấp thuận thôi quốc tịch gốc mới được vào quốc tịch mới nhưng họ lại bị tước quốc tịch hoặc tự động mất quốc tịch ở nước họ. Nguyên nhân này là một trong các lý do dẫn đến việc xác định quốc tịch Việt Nam cho trẻ em sinh ra tại Việt Nam mà có một bên hoặc cả hai bên cha mẹ là người không quốc tịch còn gặp nhiều khó khăn vì cách hiểu và áp dụng pháp luật khác nhau, dẫn đến một số trường hợp trẻ không được xác định quốc tịch.
Thứ hai, đã có quốc tịch nhưng bị mất quốc tịch, cụ thể, công dân xin thôi quốc tịch Việt Nam nhưng chưa làm thủ tục nhập quốc tịch nước ngoài.Ví dụ: một công dân Việt Nam lấy vợ hoặc lấy chồng Đài Loan đã xin thôi quốc tịch Việt Nam nhưng vì lý do nào đó không được phía Đài Loan chấp nhận nên rơi vào trạng thái không quốc tịch, về Việt Nam sinh sống.Chưa có quy định hướng dẫn cụ thể để tạo thuận lợi cho người đã mất quốc tịch Việt Nam được trở lại quốc tịch Việt Nam theo Điều 7 và Điều 23 Luật Quốc tịch. Do còn có cách hiểu và áp dụng khác nhau, nên dẫn đến hệ quả hiện nay có nhiều trường hợp đã thôi quốc tịch Việt Nam, nhưng vì nhiều lý do khác nhau không được nhập quốc tịch nước ngoài và rơi vào tình trạng không quốc tịch, (nhiều người trong số họ chưa được giải quyết cho trở lại quốc tịch Việt Nam mặc dù đã có đơn yêu cầu)
Thứ ba, điều kiện xin nhập quốc tịch chưa phù hợp. Điều 8 Luật Quốc tịch quy định “Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam tạo điều kiện cho trẻ em sinh ra trên lãnh thổ Việt Nam đều có quốc tịch và những người không quốc tịch thường trú ở Việt Nam được nhập quốc tịch Việt Nam theo quy định của Luật này”. Tuy nhiên, việc thực hiện áp dụng quy định còn còn nhiều bất cập, vì để được nhập quốc tịch Việt Nam thì yêu cầu phải có nơi thường trú tại Việt Nam và được cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam cấp thẻ thường trú[5]. Để được cấp thẻ thường trú thì theo quy định tại khoản 1 Điều 40 Luật nhập cảnh, xuất cảnh, quá cảnh, cư trú của người nước ngoài tại Việt Nam năm 2014 thì người nước ngoài phải có chỗ ở hợp pháp và có thu nhập ổn định bảo đảm cuộc sống tại Việt Nam.Tuy nhiên nhiều người không quốc tịch, tuy đã sống tại Việt Nam từ trước năm 2000 nhưng do không có giấy tờ chứng minh chỗ ở hợp pháp và có thu nhập ổn định mà do đó không đáp ứng được các điều kiện để được cấp thẻ thường trú. Thực tế, tại các khu vực biên giới như An Giang, Tây Ninh, v.v. các hộ dân này không có chỗ ở ổn định, chỉ che nhà tạm ở ven sông, thường xuyên di chuyển đi nhiều nơi khác nhau, ngoài ra, do trình độ văn hóa, hiểu biết pháp luật của người dân tại khu vực biên giới còn thấp nên việc kê khai, thủ tục đăng ký cũng bị ảnh hưởng. Điều này đồng nghĩa với việc họ không đủ điều kiện về mặt hồ sơ để xin nhập quốc tịch Việt Nam. Đây là khó khăn lớn đối với người không quốc tịch cư trú ổn định tại Việt Nam xin nhập quốc tịch Việt Nam trong thời gian qua.

III. Mọi người cũng hỏi

1. Câu hỏi: Người không quốc tịch tại Việt Nam cần làm gì để đăng ký tạm trú?

Trả lời: Để đăng ký tạm trú tại Việt Nam, người không quốc tịch cần đến cơ quan quản lý xuất nhập cảnh địa phương để nộp đơn đăng ký. Quy trình này thường bao gồm việc cung cấp các giấy tờ liên quan, thông tin về địa chỉ tạm trú, và có thể yêu cầu thêm một số thủ tục khác.

2. Câu hỏi: Người nước ngoài không quốc tịch có quyền lợi gì khi sinh sống và làm việc tại Việt Nam?

Trả lời: Người không quốc tịch tại Việt Nam có quyền lợi nhất định như sử dụng các dịch vụ y tế cơ bản, hưởng các quyền lợi lao động theo quy định của pháp luật, và tham gia các hoạt động xã hội. Tuy nhiên, quyền lợi này thường được quy định rõ trong các hợp đồng hoặc thỏa thuận liên quan đến tình trạng pháp lý của họ tại Việt Nam.

3. Câu hỏi: Người nước ngoài không quốc tịch muốn định cư lâu dài tại Việt Nam cần thực hiện những bước gì?

Trả lời: Để định cư lâu dài tại Việt Nam, người không quốc tịch thường cần đáp ứng các điều kiện cụ thể, bao gồm có việc làm ổn định, năng lực tài chính đủ để sống và làm việc tại đây. Họ cũng cần tuân thủ quy định về visa và cấp phép định cư của chính phủ Việt Nam, có thể liên quan đến việc đối tác hoặc kết hôn với người có quốc tịch Việt Nam.

Bài viết liên quan

0931473068

Tư vấn
challenges-icon chat-active-icon