Việt kiều ở Pháp góp phần vào thắng lợi của Hiệp định Paris

Cộng đồng Việt Kiều ở Pháp đã đóng góp quan trọng vào sự hòa bình và phát triển sau Hiệp định Paris năm 1973. Hãy cùng Visaworlds tìm hiểu về Việt kiều ở Pháp góp phần vào thắng lợi của Hiệp định Paris nhé!

Việt kiều ở Pháp góp phần vào thắng lợi của Hiệp định Paris
Việt kiều ở Pháp góp phần vào thắng lợi của Hiệp định Paris

Mục lục

I. Việt kiều là gì?

“Việt kiều” là một thuật ngữ tiếng Việt, thường được sử dụng để chỉ người Việt Nam sống ở nước ngoài, có quốc tịch của quốc gia đó. Người Việt kiều thường là những người đã rời khỏi Việt Nam để định cư, học tập, làm việc, hoặc có những liên kết với cộng đồng Việt Nam ở nước ngoài.

II. Việt kiều ở Pháp góp phần vào thắng lợi của Hiệp định Paris

1. Ông Nguyễn Văn Bổn, nguyên Chủ tịch đặc trách đối ngoại Hội người Việt Nam tại Pháp

Lúc đó hoạt động chủ yếu của tôi là tranh thủ những người ủng hộ cuộc đấu tranh ở Việt Nam. Tôi phải đọc nhiều sách để tìm kiếm tài liệu nói rằng Mỹ đã sang Việt Nam và đã có những tính toán sẵn từ trước. Tôi chủ yếu là làm công tác thanh niên, ngoài việc tham gia những việc cụ thể của hội thì cũng tham gia những việc quần chúng.

Còn là sinh viên nên tôi không tham gia trực tiếp vào hoạt động của đoàn đàm phán, mà làm công tác tuyên truyền cho mọi người hiểu rằng Hiệp định Paris là cần thiết. Công tác quần chúng là một hoạt động rất quan trọng của phong trào yêu nước tại Pháp, có sự tham gia của nhiều cô bác, anh chị trong Hội người Việt Nam tại Pháp. Công việc này đòi hỏi sự kiên trì và khéo léo để giải thích, làm cho mọi người thấy những việc cần làm vì đất nước.

Chúng tôi đã tham dự phong trào hòa bình quốc tế, tranh thủ cầm cờ đỏ sao vàng để thu hút sự ủng hộ. Năm nào chúng tôi cũng tổ chức mít-tinh vào ngày kỷ niệm ký Hiệp định Genève, xem như một hoạt động chính trị. Càng theo phong trào, chúng tôi càng ngấm lời căn dặn của của Bác Hồ đối với kiều bào về công tác ngoại giao nhân dân.

Trong suốt thời gian diễn ra hội nghị từ năm 1968-1973, với thế mạnh của giới sinh viên là trẻ, năng nổ, dễ tiếp cận, trong thời gian diễn ra đàm phán, chúng tôi đấu tranh rất quyết liệt và có lúc gặp nguy hiểm.

2. Bà Thérèse Nguyễn Văn Ký, nguyên Chủ tịch Hội người Việt Nam tại Pháp

Sau khi được biết rằng sẽ có cuộc đàm phán ở Paris, thì trong phong trào chuẩn bị để lập đội ngũ, cái đầu tiên các anh nghĩ đến là vấn đề sức khỏe của đoàn. Thành ra lúc đó tôi được sắp xếp ở trong số anh chị em sẽ chăm lo sức khỏe cho 2 đoàn. Trong nhóm chăm lo sức khỏe có bác sĩ, nha sĩ và dược sĩ. Lúc đầu chỉ lo đoàn miền bắc, tôi thì ở Choisy-le-Roi nên được bố trí lo đoàn miền bắc mặc dù trong đoàn đã có bác sĩ rồi.

Tôi có dịp gần các anh ở trong đoàn nhiều hơn vì ai cũng cần thuốc men, chăm sóc sức khỏe. Một năm đầu thì không sao nhưng thời gian hội nghị kéo dài nên cần có chương trình khám sức khỏe mỗi năm. Thành ra tôi cũng có dịp nói chuyện nhiều với các anh. Công việc ở nơi công tác và nơi có đoàn đàm phán cứ cuốn chúng tôi vào guồng máy đấu tranh vì hòa bình cho đất nước. Tới khi biết tin Hiệp định Paris sẽ được ký kết, tôi và rất nhiều bà con vui lắm vì sau nhiều đêm dài đấu tranh, chúng ta đã có chiến thắng.

3. Ông Phạm Anh Tuấn, Việt kiều tại Pháp

Năm nay anh em chúng tôi đã bước sang tuổi 70 rồi. Lúc đó anh em chúng tôi đều trẻ tuổi, chỉ mười tám đôi mươi, là du học sinh từ Việt Nam sang. Qua đây nhờ có phong trào yêu nước cho nên chúng tôi từng bước hiểu cuộc kháng chiến chính nghĩa của ta. Và như vậy, anh em chúng tôi tham gia vào phong trào này cho đến hôm nay.

Nói về Hội nghị Paris, tôi nghĩ lực lượng trẻ tuổi lúc ấy trong phong trào là một lực lượng rất mạnh, và có thể nói là nòng cốt cho phong trào thời đó. Phong trào sinh viên được chia ra nhiều phân hội. Chúng tôi luôn nghĩ là “Đâu cần thanh niên có, đâu khó có thanh niên”. Suốt 5 năm diễn ra hội nghị cho đến ngày ký kết, chúng tôi thường xuyên đứng phát báo ở trong trường đại học hoặc trong khu ký túc xá sinh viên để tuyên truyền về cuộc đấu tranh chính nghĩa của Việt Nam và từ đó giải thích, vận động sự ủng hộ của cả người Việt và quốc tế.

Trước ngày ký hiệp định đó, tôi đã hoạt động chính trong phong trào rồi. Lúc đó tôi tham gia làm báo cho Liên hiệp Việt kiều. Tôi là người đánh máy, còn viết bài là mấy anh lớn tuổi hơn. Tôi đánh máy, sửa lỗi rồi in. Tôi còn nhớ, trước hôm ký một ngày, buổi chiều tôi ở đó làm báo, nhưng buổi tối tôi được chỉ thị đến một nơi để làm cờ. Rất nhiều anh chị em ngồi làm cờ Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam và cờ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, từ cờ nhỏ đến cờ lớn. Các chị hướng dẫn chúng tôi cắt thật khéo.

Ngày 27/1/1973, tầm 4 giờ 30, khi chúng tôi đến gần đường Kléber thì có cảnh sát rất đông nên tôi cũng sợ vì có giấu cờ trong người. May là họ không kiểm tra. Đến lúc 5 giờ sáng thì trời vẫn còn tối lắm, bắt đầu rải rác có người đến nhưng toàn bà con mình. Rồi có người Pháp đến và không bao lâu sau thì thấy đông nghẹt người ở xung quanh. Chúng tôi ngồi đợi đến trời sáng. Đến lúc đoàn đến thì phất cờ.

4. Ông Trần Tứ Nghĩa, nguyên Chủ tịch Hội người Việt Nam tại Pháp

Trên cương vị phụ trách 7 phân hội của sinh viên, tôi đã được làm việc cùng 2 đoàn từ năm 1968. Chúng tôi tổ chức các buổi gặp mặt cùng với một số thành viên trong 2 đoàn công tác nhằm thông tin tới sinh viên các tình hình trong nước. Những buổi gặp mặt với khoảng 6-7 sinh viên, diễn ra trong 1 căn phòng nhỏ hẹp. Có nhiều bác sĩ trẻ ở dưới tỉnh, cũng đã tình nguyện đóng cửa phòng khám, để lên Paris sinh hoạt chung và làm việc cùng với đoàn trong thời gian dài, trong đó có bác sĩ Nguyễn Văn Lâm, lúc đó là Tổng Thư ký chi hội sinh viên tại Montpellier. Anh em sinh viên vận động sự ủng hộ của các sinh viên quốc tế khác đến từ châu Phi, châu Á, châu Mỹ Latin và nhận được sự hưởng ứng mạnh mẽ.

5. Bà Hà Ngọc Lan, Việt kiều tại Pháp

Cuối năm 1969, tôi sang Pháp du học và gia nhập Liên hiệp Hội thanh niên Việt Nam tại Pháp, thành viên của Liên hiệp Việt kiều. Tôi thường xuyên tham gia các hoạt động của Hội, nhất là các chương trình văn nghệ.

Lúc đó, các cuộc đàm phán của Hiệp định Paris đã bắt đầu diễn ra và rất cần sự chung tay của các đội hậu cần. Tôi được góp sức trong đội thông tin do anh Phạm Văn Ba phụ trách, dịch thuật tài liệu để thông tin cho báo chí. Các cuộc xuống đường biểu tình, mít-tinh văn nghệ để bạn bè Pháp và quốc tế hiểu hơn về cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam của Mỹ, để kêu gọi sự ủng hộ từ quốc tế, tôi đều tham gia. Các thành viên trong hội cũng thông tin mạnh mẽ trên báo chí và thông tin nội bộ. Càng đến sát ngày ký kết, sự đồng lòng quyết tâm của từng thành viên trong hội càng trở nên cao hơn bao giờ hết.

Dấu mốc của sự kiện lịch sử vẫn còn đó rất hào hùng. Tôi rất mừng là đất nước mình đang trên hướng phát triển cùng nhịp với quốc tế. Cộng đồng người Việt Nam tại nước ngoài ngày càng gắn bó với quê hương đất nước, qua những chuyến hồi hương, đặc biệt là các thế hệ trẻ sinh ra tại nước ngoài để tìm về cội nguồn.

III. Điều kiện nhập tịch Việt Nam

Điều kiện để nhập tịch Việt Nam theo quy định của Luật Quốc tịch Việt Nam năm 2008 bao gồm:

1. Điều kiện chung

  • Có đủ năng lực hành vi dân sự theo quy định của pháp luật Việt Nam.
  • Tuân thủ Hiến pháp và pháp luật Việt Nam; tôn trọng truyền thống, phong tục, tập quán của dân tộc Việt Nam.
  • Có khả năng bảo đảm cuộc sống tại Việt Nam.
  • Không thuộc một trong các trường hợp không được nhập quốc tịch Việt Nam theo quy định của Luật Quốc tịch Việt Nam.

2. Điều kiện cụ thể

2.1. Đối với người nước ngoài

Đã thường trú ở Việt Nam liên tục từ 5 năm trở lên tính đến thời điểm xin nhập quốc tịch Việt Nam.

Biết tiếng Việt đủ để hòa nhập vào cộng đồng Việt Nam.

Có một trong các trường hợp sau:

  • Có vợ hoặc chồng là công dân Việt Nam và đã chung sống liên tục từ 3 năm trở lên.
  • Có con là công dân Việt Nam.
  • Có công lao với Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
  • Có đủ điều kiện để đầu tư, kinh doanh tại Việt Nam.

2.2. Đối với người không quốc tịch

  • Đã thường trú ở Việt Nam liên tục từ 3 năm trở lên tính đến thời điểm xin nhập quốc tịch Việt Nam.
  • Biết tiếng Việt đủ để hòa nhập vào cộng đồng Việt Nam.
  • Có đủ điều kiện để bảo đảm cuộc sống tại Việt Nam.

>>> Đọc thêm Hướng dẫn làm CCCD cho Việt Kiều để biết thêm thông tin chi tiết nhé!

IV. Hồ sơ nhập tịch Việt Nam

Hồ sơ nhập tịch Việt Nam

1. Đơn xin nhập quốc tịch Việt Nam

  • Mẫu đơn được ban hành kèm theo phụ lục của Thông tư 02/2020/TT-BTP.
  • Điền đầy đủ thông tin cá nhân, lý do xin nhập quốc tịch, cam kết tuân thủ Hiến pháp và pháp luật Việt Nam, v.v.
  • Ký tên và đóng dấu (nếu có).

2. Sơ yếu lý lịch

  • Có xác nhận của cơ quan công an nơi thường trú.
  • Ghi rõ lý lịch bản thân, thành phần gia đình, quá trình học tập, công tác, v.v.

3. Giấy tờ chứng minh đủ năng lực hành vi dân sự

  • Chứng minh thư nhân dân hoặc Căn cước công dân.
  • Hộ chiếu (nếu có).

4. Giấy tờ chứng minh đã thường trú ở Việt Nam liên tục theo quy định

  • Sổ hộ khẩu thường trú tại Việt Nam.
  • Giấy tờ chứng minh đã cư trú hợp pháp tại Việt Nam trong thời gian trước khi có sổ hộ khẩu (nếu có).

5. Giấy tờ chứng minh biết tiếng Việt

  • Bằng tốt nghiệp tiếng Việt do cơ sở giáo dục của Việt Nam cấp.
  • Giấy chứng nhận hoàn thành chương trình đào tạo tiếng Việt do cơ sở giáo dục của Việt Nam cấp.
  • Giấy xác nhận đủ trình độ tiếng Việt do cơ quan quản lý nhà nước về giáo dục và đào tạo cấp.

6. Giấy tờ chứng minh có khả năng bảo đảm cuộc sống tại Việt Nam

  • Giấy tờ chứng minh thu nhập (sổ tiết kiệm, hợp đồng lao động, v.v.).
  • Giấy tờ chứng minh sở hữu tài sản (nhà đất, xe cộ, v.v.).
  • Giấy bảo lãnh của tổ chức hoặc cá nhân tại Việt Nam (nếu có).

7. Giấy tờ chứng minh có vợ hoặc chồng là công dân Việt Nam và đã chung sống liên tục từ 3 năm trở lên (nếu có)

  • Giấy đăng ký kết hôn.
  • Giấy tờ chứng minh đã chung sống liên tục từ 3 năm trở lên (hợp đồng thuê nhà, hóa đơn điện nước, v.v.).

8. Giấy tờ chứng minh có con là công dân Việt Nam (nếu có)

  • Giấy khai sinh của con.

9. Giấy tờ chứng minh có công lao với Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (nếu có)

  • Bằng khen, huân chương, huy chương do Nhà nước Việt Nam cấp.
  • Giấy tờ chứng minh đã có đóng góp cho sự phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, v.v. của Việt Nam.

10. Giấy tờ chứng minh có đủ điều kiện để đầu tư, kinh doanh tại Việt Nam (nếu có)

  • Giấy phép đầu tư.
  • Giấy phép kinh doanh.
  • Giấy tờ chứng minh năng lực tài chính.

Lưu ý:

  • Các loại giấy tờ trên phải được dịch sang tiếng Việt và được công chứng hoặc hợp pháp hóa lãnh sự.
  • Bộ hồ sơ có thể thay đổi tùy theo từng trường hợp cụ thể.
  • Nên liên hệ với cơ quan quản lý nhà nước về xuất nhập cảnh để được hướng dẫn cụ thể.

V. Thủ tục nhập tịch Việt Nam

Bước 1: Chuẩn bị hồ sơ

  • Tham khảo danh sách hồ sơ yêu cầu tại mục “Hồ sơ xin nhập tịch Việt Nam chi tiết và cụ thể”.
  • Chuẩn bị đầy đủ các loại giấy tờ theo yêu cầu, đảm bảo hợp lệ và được dịch sang tiếng Việt nếu cần thiết.

Bước 2: Nộp hồ sơ

  • Nộp hồ sơ trực tiếp tại cơ quan quản lý nhà nước về xuất nhập cảnh nơi thường trú hoặc nơi làm việc.
  • Hoặc gửi hồ sơ qua bưu điện.

Bước 3: Cơ quan quản lý nhà nước về xuất nhập cảnh xem xét hồ sơ

  • Thời gian xem xét hồ sơ là 90 ngày.
  • Trong thời gian xem xét, cơ quan quản lý nhà nước về xuất nhập cảnh có thể yêu cầu bổ sung hồ sơ nếu cần thiết.

Bước 4: Thông báo kết quả

  • Nếu được chấp thuận, người xin nhập quốc tịch Việt Nam sẽ được cấp Giấy chứng nhận nhập quốc tịch Việt Nam.
  • Nếu không được chấp thuận, người xin nhập quốc tịch Việt Nam sẽ được thông báo lý do cụ thể.

Lưu ý:

  • Nên liên hệ với cơ quan quản lý nhà nước về xuất nhập cảnh để được hướng dẫn cụ thể về thủ tục nhập tịch Việt Nam.
  • Các quy định về nhập quốc tịch Việt Nam có thể thay đổi theo thời gian.
  • Nên tham khảo thông tin cập nhật trên trang web của Bộ Công an hoặc Cổng thông tin điện tử của Chính phủ Việt Nam.

Thời gian hiệu lực của Giấy chứng nhận nhập quốc tịch Việt Nam:

  • Giấy chứng nhận nhập quốc tịch Việt Nam có giá trị vĩnh viễn.

VI. Chi phí nhập tịch Việt Nam

Dưới đây là bảng chi phí nhập tịch Việt Nam chi tiết và cụ thể:

LOẠI PHÍ MÔ TẢ MỨC PHÍ
Phí thẩm định hồ sơ Phí được thu để thẩm định hồ sơ xin nhập quốc tịch Việt Nam 2.000.000 VND
Phí cấp Giấy chứng nhận nhập quốc tịch Việt Nam Phí được thu để cấp Giấy chứng nhận nhập quốc tịch Việt Nam 500.000 VND
Phí dịch thuật Phí dịch thuật các loại giấy tờ sang tiếng Việt (nếu có) Tùy theo số lượng trang và ngôn ngữ dịch
Phí công chứng Phí công chứng các loại giấy tờ (nếu có) Tùy theo loại giấy tờ
Phí hợp pháp hóa lãnh sự Phí hợp pháp hóa lãnh sự các loại giấy tờ (nếu có) Tùy theo quốc gia
Chi phí đi lại, lưu trú Chi phí đi lại, lưu trú (nếu có) Tùy theo địa điểm và thời gian

Tổng chi phí nhập tịch Việt Nam sẽ dao động từ 3.000.000 VND đến 5.000.000 VND tùy thuộc vào trường hợp cụ thể.

Lưu ý:

  • Mức phí trên chỉ mang tính chất tham khảo, có thể thay đổi theo thời gian.
  • Nên tham khảo thông tin cập nhật về chi phí nhập tịch Việt Nam trên trang web của Bộ Công an hoặc Cổng thông tin điện tử của Chính phủ Việt Nam.

Ngoài ra, bạn cũng cần lưu ý một số điểm sau:

  • Các khoản chi phí khác:
    • Chi phí khám sức khỏe: 500.000 – 1.000.000 VND.
    • Chi phí học tiếng Việt (nếu có): Tùy theo học phí của cơ sở đào tạo.
  • Miễn phí:
    • Người có công lao đặc biệt đóng góp cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xin nhập, xin trở lại quốc tịch Việt Nam.
    • Người thuộc diện được miễn, giảm lệ phí theo quy định của pháp luật.

>>> Đọc thêm Câu chuyện chàng trai kết bạn Việt kiều Pháp để biết thêm thông tin nhé!

VII. Mọi người cũng hỏi

1. Bà con Việt kiều ở Pháp đã gặp phải những khó khăn gì trong quá trình vận động cho Hiệp định Paris?

  • Sự đàn áp của chính quyền Pháp
  • Sự chia rẽ trong cộng đồng Việt kiều
  • Thiếu thông tin

2. Những hoạt động nào của Việt kiều ở Pháp đã gây ảnh hưởng trực tiếp đến dư luận Pháp và quốc tế về vấn đề Việt Nam?

  • Biểu tình phản đối chiến tranh Việt Nam
  • Vận động chính giới Pháp
  • Công tác tuyên truyền

3. Việc giáo dục và chia sẻ kinh nghiệm của Việt kiều ở Pháp có vai trò gì trong việc thực hiện Hiệp định Paris?

Việt kiều ở Pháp đóng vai trò quan trọng trong việc chia sẻ kiến thức, kinh nghiệm và mô hình thành công về giáo dục và đào tạo. Họ có thể tạo ra các cơ hội học tập và hợp tác giữa các trường đại học và tổ chức nghiên cứu ở cả hai quốc gia, thúc đẩy sự phát triển bền vững và đổi mới trong lĩnh vực giáo dục.

Bài viết liên quan

0931473068

Tư vấn
challenges-icon chat-active-icon